Cảm nhận bài thơ Thương Vợ của tác giả Tú Xương cực hay

Cảm nhận bài thơ Thương vợ của Tú Xương

Bài làm

Loading...

Thơ văn Việt nam xưa và nay có những bài thơ thương vợ, khóc vợ rất cảm động. Người ta còn truyền tụng một bài thơ của Tự Đức khóc một bà phi có câu:

Đập vỡ gương ra tìm thấy

Xếp tàn y lại để dành hơi

Nỗi nhớ nhung đau đớn, dữ dội ấy còn được Bùi Hữu Nghĩa, Nguyến Thượng Hiền, Nguyến Khuyến thể hiện cảm động trong bài văn tế, câu đối khóc vợ sau này. Cảm phục, xót thương, tự hào… trước tấm lòng, đức hi sinh của vợ bằng giọng văn vừa có chút tính nghịch, vừa rất cảm động; giữa sự kết hợp giữa trào phúng và trữ tình Tú Xương đã làm “giàu” thêm đề tài viết về bà Tú và kịp góp vào nền văn học Trung đại Việt Nam một bài thơ về tình cảm thương vợ hay và sâu sắc. Thương vợ- bài thơ trữ tình- trào phúng đậm sắc dân gian của Tú Xương.

Thơ Tú Xương được in và xuất bản sau khi ông đã mất, bởi vậy nhan đề bài thơ được đặt có thể là do bạn đọc thấy nội dung của nó biểu hiện tình cảm thương vợ. Tình cảm ấy trước hết được thể hiện qua bốn câu thơ đầu bằng việc nhà thơ tạc dựng hình ảnh một bà vợ buôn bán, tần tảo nuôi chồng nuôi con:

Quanh năm buôn bán ở mom sông

Nuôi đủ năm con với một chồng

Lặn lội thân cò khi quãng vắng

Loading...

Eo sèo mặt nước buổi đò đông

Mở đầu bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật thường là hai câu đề, thế nhưng hai câu thơ lại mang sắc thái của hai câu thực. Nó cho thấy nỗi vất vả, khó nhọc của người vợ. Về thời gian nỗi vất vả đó là quanh năm, ngày nào, tháng nào cũng như vậy. Về không gian đó là địa điểm buôn bán nơi mom sông. Bà Tú không có cửa hàng cửa hiệu nơi phố phường sầm uất. Bà Tú cũng không có một cái lều, một gian hàng buôn bán ổn định ở cửa chợ, đình chợ. Ngay hai câu thơ đầu, nhà thơ nói được một cách cụ thể về công lao to lớn của bà Tú:

Nuôi đủ năm con với một chồng

Các từ ngữ: nuôi đủ, năm, một cho thấy bà Tú đã nuôi 6 người. Ta thấy thấp thoáng nụ cười trào lộng hay chính là nụ cười tự trào của nhà thơ qua cách tính đếm của ông: năm con với một chồng. Đức ông chồng bằng cả bầy con. Nụ cười tự trào của Tú Xương, cách đánh giá mình sống nhờ vợ như lũ con có cái gì rất gần gũi với câu ca dân gian “Dài lưng tốn vải ăn no lại nằm”. Ông đánh giá đúng thực trạng kém cỏi của mình, biết công lao vợ phải nuôi mình và năm đứa con. Đó là nét đẹp của nhân cách Tú Xương được biểu hiện qua nụ cười tự trào của ông.

Cảm nhận bài thơ Thương Vợ của tác giả Tú Xương cực hay

Cảm nhận về bài thơ Thương vợ

Tiếp theo là hai câu thực đã khắc họa thành công hình ảnh bà Tú vất vả qua chi tiết nghệ thuật hình ảnh “lặn lội thân cò”. Nó nhắc nhớ ta về câu ca dao:

Con cò lặn lội bờ sông

Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non

Câu thơ làm hiện lên trong người đọc hình ảnh một bà Tú lặn lội đêm hôm buôn bán vất vả để nuôi con, nuôi chồng giống như biểu tượng hình ảnh con cò trong thơ ca dân gian. Biểu tượng đó còn sâu đậm thêm khi ta đọc đến câu thơ “Eo sèo mặt nước buổi đò đông”. Hình ảnh bà Tú “lặn lội” gắn với “quãng vắng”, gắn với mặt nước cũng giống như hình ảnh con cò trong thơ ca dân gian gắn với “ăn đêm”, “cò dò bắt tép”, “lặn lội bờ sông”. Như vậy, qua hai câu thơ, Tú Xương đã sử dụng một số tín hiệu nghệ thuật để nói lên nỗi vất vả, khó nhọc của người phụ nữ nông thôn trước đây.

Chính nhờ những phương tiện biểu hiện nghệ thuật của văn học dân gian nên ở một phương diện và mức độ nào đó, hình ảnh bà Tú trong hai câu thơ cũng mang ý nghĩa tượng trưng cho người phụ nữ Việt Nam tần tảo, đảm đang:

Một duyên hai nợ âu đành phận

Năm nắng mười mưa dám quản công

Người xưa hay có quan niệm về duyên và nợ, hai người lấy nhau thì là có duyên có nợ từ kiếp trước, còn yêu nhau mà không lấy được nhau thì đó là có duyên nhưng không có nợ. Ở đây bà Tú lại có duyên có cả nợ với nhà thơ nên mới chịu cảnh khó khăn khổ cực như thế. Một chữ duyên, hai chữ nợ, thôi thì đành phận với nhau. Hai câu luận bàn về nỗi vất vả khó nhọc, đức tính chịu đựng của bà Tú. Nó cũng là lời thơ biểu hiện tâm trạng của bà Tú, luôn chịu đựng, không phàn nàn, không oán trách cũng chẳng hề kêu ca. Đó cũng chính là hình ảnh của người phụ nữ Việt Nam luôn xứng đáng với tám chữ vàng mà Bác Hồ đã tặng “kiên cường, bất khuất, trung hậu, đảm đang”.

Bà Tú hiện lên đẹp hơn khi không quản công gánh nặng. Bà thương chồng, thương con và hi sinh cho chồng con mà không một lời than vãn. Nhưng chính sự không than vãn và đức hi sinh ấy khiến cho nhà thơ không thể nào yên lòng được:   

Cha mẹ thói đời ăn ở bạc

Có chồng hờ hững cũng như không

Bài thơ không phải lời “tự bạch” của bản thân bà Tú mà là lời kể, lời tả bà Tú của Tú Xương. Vậy tác giả sau khi dựng lại hình ảnh người vợ đã chửi ai vậy? Nhà thơ chửi “thói đời ăn ở bạc, “có chồng hờ hững cũng như không”, nghĩa là nhà thơ chửi thói đời vì cái thói đời ấy mà bà Tú có chồng cũng như không, chồng chẳng giúp gì được, thậm chí bà phải nuôi chồng. Thói đời ấy là tập tục ngày xưa: vợ phải nuôi chồng ăn học. Cái thói đời ấy đã đưa lại cho bà Tú một ông chồng khiến bà phải nuôi. Vậy rằng, Tú Xương tự chửi bản thân vô tích sự. Một lần nữa ta thấy thấp thoáng nụ cười tự trào và nhân cách cao đẹp của Tú Xương.

Qua  bài thơ, Tú Xương đã thể hiện sự thương yêu vợ sâu sắc. Bài thơ giống như một bức thư, một dòng nhật kí mà nhà thơ muốn gửi đến vợ mình, để thay lời cho tất cả niềm biết ơn, niềm cảm thông mà hơn cả là tình yêu thương đằng sau những tần tảo gánh gồng cuộc sống mưu sinh của cả gia đình. Thương vợ vừa là bài thơ hay đã khắc họa cảm động hình ảnh Bà Tú đồng thời cũng cho ta thấy tấm lòng đáng trân quý của nhà thơ dành cho vợ mình. 

Bích Hợp

Ứng dụng VĂN MẪU TỔNG HỢP trên điện thoại với hơn 30k bài văn mẫu hay nhất, giải bài tập SGK, soạn văn đầy đủ chi tiết. Hãy tải App ngay để chúng tôi phục vụ bạn tốt hơn nhé!

Nếu thấy bài viết hay, hãy động viên và chia sẻ ban biên tập! Các bình luận không phù hợp sẽ bị cấm bình luận vĩnh viễn.

Like bài viết để ủng hộ tác giả

Bình luận bài viết