Cảm nhận về bài thơ Việt Bắc của nhà thơ Tố Hữu cực hay

Cảm nhận về bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu

Bài làm

Loading...

Tố Hữu – một nhà thơ lớn của dân tộc ở thế kỉ XX, là cánh chim đầu đàn của thơ ca Cách mạng. Sự nghiệp sáng tác của ôn luôn song hành với sự nghiệp Cách mạng của dân tộc tư gian khó hi sinh cho đến thắng lợi vẻ vang. Sau khi cuộc khánh chiến  chống Pháp của nhân dân kết thúc thắng lợi, tháng 10/1945, thay mặt cho cả dân tộc, Tố Hữu viết bài thơ Việt Bắc để tổng kết lại một chặng đường lịch sử hào hùng, bi tráng mà các thế hệ Việt Nam đã lấy máu  mình để lên thiên sử vàng chói lọi.

Mở đầu bài thơ là cuộc chia tay đầy xúc động giữa người kháng chiến với quê hương Việt Bắc. Sự kiện lịch sử trọng đại này đã được nhà thơ trữ tình hóa thành khúc hát giao duyên “ta – mình” nồng nàn thắm thiết. Hai mươi tư câu thơ đầu hướng về đề tài biệt li quen thuộc trong văn học để ghi lại tình cảm chan chứa nghĩa tình của cơ quan trung ương Đảng và chính phủ với chiến khu Việt Bắc, một cuộc tiễn đưa tràn ngập lưu luyến, bịn rịn nhớ thương. Đây là đoạn thơ rất tiêu biểu cho cảm hứng trữ tình chính trị trong thơ Tố Hữu, đó là cảm xúc mãnh liệt trước những vấn đề chính trị của đất  nước, được thể hiện bằng hình thức lãng mạn đầy tình cảm.

Mở đầu cho khúc hát biệt li là tiếng lòng, là tình cảm của Việt Bắc – những người ở lại dành cho người kháng chiến về xuôi:

Mình về mình có nhớ ta

Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng

Mình về mình có nhớ không

Nhìn cây nhớ núi nhìn sông nhớ nguồn?

Hai câu thơ lục đã thể hiện rõ nét tính dân tộc của phong cách thơ Tố Hữu: thi tứ ảnh hưởng của ca dao dân ca với nghệ thuật điệp “mình về mình có nhớ” cùng hai đại từ nhân xưng “ta” – “mình” quen thuộc. Việc sử dụng thi liệu của văn học dân gian đã làm tăng sắc thái ngọt ngào, thương mến của hai nhân vật trữ tình. Hai tiếng “ta” – “mình” vừa được sử dụng ở ngôi một số ít vùa được dùng ở ngôi một số nhiều chỉ đồng bào Việt Bắc và những người tham gia kháng chiến trường kì đã xuất hiện trong suốt đoạn thơ, thể hiện cho tình cảm gắn bó khăng khít của bao người trong suốt những năm tháng đồng cam cộng khổ, sát cánh bên nhau đánh đuổi kẻ thù, bảo vệ quê hương đất nước đằng đẵng “mười lăm năm”

Loading...

“Mười lăm năm ấy” chính là khoảng thời gian màViệt Bắc là cái nôi cưu mang, đùm bọc bộ đội, đùm bọc cách mạng, cũng là khoảng thời gian mà ta với mình đã cùng nhau trải qua bao khó khăn, thử thách từ ngày đầu kháng chiến. Đó còn là chặng đường lịch sử bi hùng rất  đỗi vinh quang của dân tộc – chặng đường của những bước chân từ than bụi lầy bùn để “đạp quân thù xuống đất đen”, để bước tới lá cờ Cách mạng, để làm chủ quê hương đất nước. Đại từ chỉ định “ấy” dường như đã đẩy  khoảng thời gian “mười lăm năm ấy” về một quá khứ xa xôi, xa xăm hơn, khiến thời gian càng thấm đẫm nỗi nhớ nhung, hối tiếc. Người ở lại muốn nhắc nhở người ra đi đừng quên quá khứ, hãy nhớ “ta” của mười lăm năm ấy, mười  lăm năm ta với mình chia ngọt sẻ bùi, mười lăm năm chứa đựng bao tình cảm thiết tha, mặn nồng, gắn kết.

Câu hỏi thứ hai của người ở lại hướng về những hình ảnh cụ thể với hàm ý sâu xa:

Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn

Nhịp thơ 4/4 kết hợp biện pháp nghệ thuật “tiểu đối” đã tạo ra sự đa xen qua những hình tượng ngôn từ, qua đó khẳng định sự gắn kết không thể tách rời giữa miền xuôi và miền ngược, giữa người đi người ở, giữa Việt Bắc và kháng chiến ở bình diện ngôn từ. Hình ảnh “cây”, “sông” là hoán dụ cho Việt Bắc. Câu thơ là cách nói ước lệ tượng trưng cho nỗi nhớ, nỗi trăn trở băn khoăn của người ở lại, rằng người ra đi khi về với thị thành phồn hoa có còn nhớ Việt Bắc – chiến khu của Cách mạng, thủ đô của kháng chiến. Nơi ấy có những tấm lòng son sắc, nơi đã “che bộ đội”, “vây quân thù”, nơi những đau thương tăm tối cả dân tộc đã hướng lên để thấy “cụ Hồ sáng soi” để “nuôi chí bền”. Bốn câu thơ nhiều thanh bằng đã tạo nên âm điệu thật da diết, bồi hồi, khơi gợi bao hoài niệm đẹp đẽ, làm sống lại một thời Cách mạng, một vùng Cách mạng.

Đáp lại tấm lòng của Việt Bắc là là tình cảm của người về xuôi ở bốn câu thơ tiếp tạo nên kết cấu thật hài hòa, đăng đối. Tình cảm mà Việt Bắc dành cho kháng chiến sâu nặng bao nhiêu thì tình cảm mà dân tộc dành cho Việt Bắc cũng nghĩa tình thắm thiết bất nhiêu. Trong giờ phút biệt li, kẻ ở người đi đã đem tấm lòng đáp lại tấm lòng, lấy nhớ thương đáp lại nhớ thương.

Tiếng ai tha thiết bên cồn

Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi

Áo chàm đưa buổi phân li

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay.

“Tiếng ai” chín là tiếng lòng của đồng bào Việt Bắc. Cách dùng từ “ai” làm câu thơ mang sắc thái mơ hồ, đồng thời cũng trở nên tinh tế, gợi cảm hơn. “Tiếng ai” ấy không hữu hình mà ẩn hiện trong tâm thức, trong nỗi nhớ, là thứ thanh âm vô hình mà ám ảnh vô cùng, có sức mạnh le lỏi vào trái tim người ra đi, làm bước chân họ “bồn chồn” nửa đi nửa ở. Và phải có một tám lòng mới có thể cảm nhận được tiếng lòng của người đối diện, phải có trái tim nhớ thương lưu luyến thực sự mới cảm nhận được tiếng lòng người ở lại nhớ thương trăn trở. Nếu tình cảm Việt Bắc dành cho Cách mạng là “thiết tha” thì tình cảm Cách mạng dành cho Việt Bắc cũng thật “tha thiết”. Nghệ thuật chơi chữ được vận dụng linh hoạt làm cho tình cảm đang vơi đầy càng thêm nồng đậm, sâu lắng hơn. Giữa người đi kẻ ở như tồn tại sự hô ứng đồng điệu, một sự thấy hiểu sâu sắc. Họ hiểu nhau thần giao cách cảm, họ hiểu nhau đồng thanh tương khí, đồng ý tương lòng. Những từ láy “bâng khuâng”, “bồn chồn” được sử dụng thật hữu hình biểu cảm, diển tả tinh tế cảm xúc người đi khi phải chia xa mảnh đất, con người mình đã từng gắn bó máu thịt. Riêng từ láy “bồn chồn” vừa diễn tả tâm trạng vừa miêu tả bước đi, khiến cho cảm xúc như hiện hữu ngay ở dáng vẻ bên ngoài với những bước chân thấp thỏm không yên, nửa đi nửa ở.

Cảm nhận về bài thơ Việt Bắc của nhà thơ Tố Hữu cực hay

Cảm nhận về bài thơ Việt Bắc

Hình ảnh hoán dụ “áo chàm” là hình ảnh miêu tả chân thực đồng bào Việt Bắc. Họ giản dị, nghèo khổ những sâu nặng nghĩa tình. Cái áo chàm còn là biểu tượng cho tình cảm gắn bó, cho đạo lí thủy chung, cho sự tương thân tương ái, trong đời sống dân tộc. Đó là nét đẹp mộc mạc, bình dị của Việt Bắc, là tấm lòng son sắc thủy chung của Việt Bắc. Cả núi rừng như đọng lại trong hình ảnh áo chàm thân thương ấy. Và trong tim người ra đi, màu áo chàm mộc mạc bình dị ấy mãi ám ảnh, mãi gợi nhắc về một tây bắc nghĩa tình thủy chung. Nhịp thơ 3/3/2 diễn tả cái dùng dằng lưu luyến, ngập ngừng của bước đi, của tâm trạng. Hình tượng “cầm tay” là biểu tượng của tình cảm đã thay lời cho bao nỗi niềm tâm sự bởi lúc này mọi lời nói đều trở nên vô nghĩa. Đó là lời từ biệt, là yêu thương gắm gửi, cũng là lời động viên khích lệ. Đó cũng là cái khựng lại, cái rưng rưng nghẹn ngào khi xúc cảm trào dâng, là sự thấy hiểu lẫn nhau giữa những người đã quá quen thân. Với cách diễn đạt tự nhiên, dung dị mà đằm thắm, thiết tha, đoạn thơ cho thấy bao vẻ đẹp của con người Việt Nam trong kháng chiến với những tình cảm thiết tha, ân tình.

Khi chia tay với người kháng chiến về xuôi, đồng bào Việt Bắc như muốn nhắc nhở bao kỉ niệm đẹp đẽ của chặng đường lịch sử mà dân tộc đã đi qua. Mười hai câu thơ với sáu câu hỏi dồn dập như tiếng lòng dâng trào mãnh liệt, như suối nguồn yêu thương đang ào ạt hiện về. Sự đắp đổi nhịp nhàng trong điệp ngữ ở các câu sáu “mình về mình có nhớ”, “mình về có nhớ”, sự đăng đối của các vế trong câu tám với nhịp 4/4 tạo nên nhịp điệu ngân nga, dào dạt, ngọt ngào cho đoạn thơ. Nhịp điệu trữ tình ấy đã góp phần thể hiện tinh tế nỗi vấn vương xao xuyến giăng mắc trong lòng kẻ ở người đi để từ đó, quá khứ đầy ắp kỉ niệm ào ạt trở về:

Mình đi, có nhớ những ngày

Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù?

Mình về, có nhớ chiến khu

Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai?

Mình về, rừng núi nhớ ai

Trám bùi để rụng, măng mai để già

Mình đi, có nhớ những nhà

Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son

Mình về, còn nhớ núi non

Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh

Mình đi, mình có nhớ mình

Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa?

Trong lời nhắc nhở da diết của người ở lại với người ra đi, Việt Bắc hiện lên thật sống động từ những khắc nghiệt của thiên nhiên với “mưa nguồn suối lũ” tới đời sống kháng chiến đau khổ, thiếu thốn với “miếng cơm chấm muối”, từ những trang sử hào hùng “kháng Nhật” tới những sự kiện trọng đại của Cách mạng và kháng chiến nơi Tân Trào, Hồng Thái. Những câu hỏi của người ở lại đã làm rõ cội nguồn tạo nên sự gắn bó sâu nặng giữa mình và ta, giữa Việt Bắc với bộ đội. Họ đã cùng nhau sẻ chia từ những thiếu thốn gian khổ đến những tâm tư nỗi niềm, họ đã chia nhua “miếng cơm chấm muối” để kề vai sát cánh trong những tháng năm ác liệt hào hùng từ thời Mặt trận Việt Minh tới chín năm kháng chiến chống Pháp. Sự sẻ chia trong quá khứ tạo nên sự gắn bó của hiện tại và nghĩa tình trong tương lai. Gian truân, vất vả đã làm ngời sáng vẻ đẹp của người dân Việt Bắc dẫu nghèo khổ mà trung hậu, nghĩa tình, thủy chung với Cách mạng và kháng chiến. Những gắn bó của mười lăm năm ấy đã làm tăng thêm nỗi nhớ nhung và cảm giác trống vắng cho núi rừng khi chia li:

Mình về rừng núi nhớ ai

Trám bùi để rụng măng mai để già

Câu thơ “Mình về rừng núi nhớ ai” vẫn mang hình thức của câu hỏi nhưng không dùng để hỏi người đi mà chỉ để bộc lộ nỗi lòng người ở lại. “Rừng núi” là hình ảnh hoán dụ cho người dân Việt Bắc, còn “ai” là người ra đi. Nỗi nhớ nhung và một chút mặc cảm ngậm ngùi được bộc lộ gián tiếp qua cách nói tránh và cấu trúc nghi vấn khiến ý thơ càng thêm xao xuyến, thêm bùi ngùi khắc khoải. Tính chất phiếm chỉ khiến hình ảnh người ra đi càng trở nên xa xôi hơn trong ánh mắt nhớ nhung của người dân Việt Bắc mộc mạc, chân thành.

Câu thơ 8 gồm hai vế đối xứng nhắc đến hai hình ảnh “trám bùi”, “măng mai” – sản vật quen thuộc bình dị của núi rừng Việt Bắc, gợi ra vùng rừng núi mênh mông đã trở thành quê hương thứ hai của người chiến sĩ. Phép điệp cấu trúc “để rụng”, “để già” gợi lên hình ảnh cuộc sống như ngưng trệ, núi rừng như hoang phế sau lưng người đi, để lại sự hụt hẫng trống vắng trong lòng người ở lại.

Sự gắn bó khiến ta – mình càng hiểu nhau, càng trân trọng nhau hơn, thể hiện qua những hình ảnh thơ chất chứa niềm thương nỗi nhớ khôn nguôi của Việt Bắc dành cho Cách mạng, cho kháng chiến:

Mình đi có nhớ những nhà

Hắt hiu lau xám đậm đà lòng son

Câu thơ là lời nhắc nhở cảm động với người ra đi: đừng bao giờ quên những con người nghèo khổ mà son sắt kiên trung – những con người đã một lòng thủy chung với cách mạng và kháng chiến. Hình ảnh “hắt hiu lau xám” vừa gợi tả không gian hoang vắng, tiêu sơ, buồn bã của núi rừng vừa mang ý nghĩa ẩn dụ chỉ cuộc sống nghèo khổ của người dân nơi đây. “Đậm đà lòng son” vì thế cũng là hình ảnh ẩn dụ ngợi ca tấm lòng trung hậu, nghĩa tình của người dân Việt Bắc. Và có lẽ chính màu lau xám hắt hiu của núi rừng càng làm đậm thêm sắc son nghĩa tình Việt Bắc.

Mình đi, mình có nhớ mình

Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa.

Một lần nữa, nhà thơ khẳng định lại tấm lòng gắn bó sắt son của Việt Bắc với Cách mạng và kháng chiến. Từ “mình” ở cuối câu sáu tạo ra nhiều cách hiểu. Có thể “mình” là “ta” – người ở lại, thì câu thơ là nỗi xuyến xao, nhớ nhung trăn trở xuyên suốt bài thơ, rằng người chiến sĩ khi trở về thành phố, trở về quê hương, trở về nơi “ánh điện cửa gương” có còn nhớ đến Việt Bắc nghĩa tình không, có nhớ đến những con người “hắt hiu lau xám đậm đà lòng son” nữa không? Cách hiểu ấy cho thấy sự hòa hợp gắn kết thật đằm thắm giữa ta với mình, tuy hai mà một không thể tách rời. Lại cũng có thể hiểu “mình” là người ra đi – câu thơ trở thành lời nhắc nhở nghiêm nghị, sâu sắc, thiết tha: mình đi, mình có thể mãi là con người của ngày xưa ấy, con người bất khuất, nghĩa tình, thủy chung nhân hậu đã cùng Việt Bắc sát cánh kề vai, chia ngọt sẻ bùi suốt mười lăm năm ấy không? Đó là lời nhắc nhở đừng đánh mất con người mình trong cuộc sống phồn hoa, đừng quên mảnh trăng non giữa rừng khi đã quen với ánh điện thị thành, đừng quên những tháng năm gian khổ, hào hùng khi trở về cuộc sống hòa bình.

Nhà thơ đã nhắc lại sự kiện lịch sử tọng đại của dân tộc ở câu tám. Câu thơ đã được nhà thơ gửi gắm những tầng nghĩa sâu sắc khi “Mái đình Hồng Thái”, “Cây đa Tân Trào” được tách ra hai vế với những tập hợp ngôn từ mới mẻ. Vế thứ nhất là hai danh từ riêng “Tân Trào”, “Hồng Thái”, những địa danh gắn liền với những sự kiện lịch sử quan trọng của dân tộc và kháng chiến: đình Hồng Thái là nơi họp Quốc dân Đại hội tháng 8 năm 1945, thành lập Ủy ban dân tộc giải phóng quân và phát lệnh Tổng khởi nghĩa; gốc đa Tân Trào là nơi đội Việt Nam Giải phóng quân đã làm lễ xuất phát chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa. Vế sau là hai danh từ chung trong đó “mái đình”, “cây đa” chính là những hình ảnh bình dị, quen thuộc của làng quê Việt, nơi tụ họp, nơi hẹn hò. Phép tiểu đối trong câu thơ đã thể hiện sự gắn bó sâu sắc của người dân Việt Bắc với Cách mạng và kháng chiến. Những tên đất, tên làng Việt Bắc đã trở thành những nét son, những dấu mốc thiêng liêng mà mọi thế hệ Việt Nam khi nhắc đến đều xúc động, tự hào. Việt Bắc đã trở thành quê hương Cách mạng, người dân Việt Bắc cũng một lòng hướng về Cách mạng.

Như một khúc hát biệt li, đoạn thơ tái hiện lại cuộc chia tay lịch sử khép lại trong tiếng lòng của người ra đi dành cho Việt Bắc nặng nghĩa nặng tình:

Ta với mình, mình với ta

Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh

Mình đi mình lại nhớ mình

Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu.

Câu thơ đầu gần hai tiểu đối cùng phép lặp đan xen giữa “ta” – “mình” và từ “với” như thứ keo gắn kết ta với mình, mình với ta. Kết câu ngôn ngữ đặc sắc ấy gợi ra sự quấn quít, giao hòa giữa người đi kẻ ở. Ta với mình lúc nào cũng khăng khít keo sơn từ buổi đầu gặp gỡ đến ngày chiến thắng chia xa. Câu thơ như lời đồng ca của người đi kẻ ở bởi tấm lòng của ta dành cho mình cũng chính là tấm lòng của mình dành cho ta, chúng ta tuy hai mà một, dù có xa mặt cũng chẳng cách lòng.

Câu thơ tiếp theo như một lời khẳng định sắt son của người ra đi về tấm lòng dành cho Việt Bắc. Ý thơ là lời lí giải sâu sắc, thuyết phục về đạo lí ấy. Từ “sau trước” gợi ra một khoảng thời gian dài từ trước đến sau, từ quá khứ đến hiện tại, đến tương lai. Dân gian ta có câu “thức lâu mới biết đêm dài”, thời gian khiến con người thêm hiểu lòng nhau. Khi đã có những năm tháng gắn bó trong quá khứ, khi đã cùng nhau chung vai gánh vác những khó khăn, khi đã cùng sẻ chia tâm tình thì tình cảm giữa họ sẽ càng “mặn mà”, “đằm thắm”. Từ láy “mặn mà”, “đinh ninh” chính là lời hứa của người ra đi rằng tình cảm giữa họ và Việt Bắc sẽ mãi bền chặt theo thời gian, không bao giờ nhạt phai, thay đổi:

Mình đi mình lại nhớ mình

Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu.

Nếu người ở lại băn khoăn, trăn trở “mình đi mình có nhớ mình” thì người ra đi cũng trả lời trong sự hô ứng đồng vọng “mình đi mình lại nhớ mình”. Vẫn là cách sử dụng tinh tế đại từ “mình” ở cuối câu thơ với nhiều nét nghĩa. Nếu hiểu “mình” là người ở lại, câu thơ là nỗi nhớ nhung tha thiết của người đi hướng về những người họ đã từng gắn bó, nếu hiểu “mình” là người đi thì câu thơ trở thành một lời khẳng định: ánh đèn thành phố sẽ không bao giờ có thể khiến người trở về quên đi “vầng trăng tình nghĩa”, cuộc sống hòa bình không thể làm cho người lính năm ấy quên đi quá khứ đẹp đẽ nghĩa tình, càng không đánh mất chính mình mà phụ lòng Việt Bắc.

Câu thơ “Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu” như một lời thầm đáp lại sự trăn trở của Việt Bắc “Mình về mình có nhớ không/ Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn”. Câu thơ phảng phất phong vị ca dao “đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu”. Hình ảnh so sánh “nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu” nhấn mạnh sắc thái và mức độ của nỗi nhớ – một khái niệm trừu tượng – được cụ thể hóa, được định lượng, hiện hữu như nước trong nguồn, đầy ắp, thầm lặng và cô tận. Hơn nữa, hình ảnh nước trong nguồn còn gợi những suy ngẫm về nguồn cội, về đạo lí thủy chung ngàn đời của người dân Việt. Thời gian cứ không ngừng chảy trôi nhưng các thế hệ Việt Nam sẽ không bao giờ quên đi chặng đường lịch sử oai hùng của cuộc kháng chiến chống Pháp cũng như luôn ghi nhớ công lao của cha ông, của Việt Bắc đã cùng dân tộc làm nên thiên sử vàng chói lọi vinh quang.

Mười tám câu thơ tiếp theo là sự tiếp nối khúc hát chia tay đầy lưu luyến bịn rịn của ta và mình. Đây cũng là đoạn thơ mở đầu cho nỗi nhớ Việt Bắc thiết tha mặn nồng của người về xuôi khi cuộc kháng chiến kết thúc. Qua đoạn thơ, khung cảnh núi rừng Việt Bắc cũng như tấm lòng của đồng bào nơi đây được khắc họa thật gợi cảm.

Sáu câu thơ đầu là nỗi nhớ về khung cảnh núi rừng Việt Bắc. Cả ba cặp lục bát đều bắt đầu bằng một chữ “nhớ” thật tha thiết. Sắc thái và mức độ của nỗi nhớ được miêu tả qua hình ảnh so sánh ngọt ngào thấm thía:

Nhớ gì như nhớ người yêu

Với nghệ thuật so sánh cùng điệp từ “nhớ”, nghĩa tình Cách mạng, nghĩa tình kháng chiến đã được nhà thơ biểu đạt bằng ngôn ngữ ngọt ngào như tình yêu đôi lứa. Có thể coi đây là một so sánh thể hiện sắc thái đặc biệt nhất và mức độ cao nhất cho nỗi nhớ của con người. Qua so sánh ấy, nhà thơ khẳng định tình cảm dân tộc dành cho Việt Bắc, cho quê hương Cách mạng là chân thành, sâu nặng, mãnh liệt, thiết tha. Chỉ một câu thơ sáu tiếng mà có đến ba tiếng trực tiếp biểu đạt cảm xúc “nhớ”, khép lại bằng chữ “yêu” đã cho thấy núi rừng Việt Bắc đã in đậm, khắc sâu trong tâm trí của những người ra đi.

Câu thơ của Tố Hữu đã làm cho tình cảm Cách mạng trở nên rất đỗi trữ tình. Có lẽ, sự liên tưởng ngọt ngào tới tình yêu đã khiến những hình ảnh của thiên nhiên Việt Bắc cũng thấm đẫm hương vị tình yêu. Từng cảnh vật của Việt Bắc trong mọi thời gian, không gian liên tiếp, dồn dập hiện ra trong nỗi nhớ người đi. Việt Bắc khi thơ mộng với ánh trăng bàng bạc thấp thoáng nơi đầu núi, khi ấm áp nhạt nhòa trong “nắng chiều lưng nương”, lúc lại mờ hồ huyền ảo giữa những “bản khói cùng sương” và nhất là luôn nồng đượm ân tình bởi sự quấn quít với hình ảnh con người khi “sớm khuya bếp lửa người thương đi về”. Đó là ngọn lửa của tình yêu thương, của sự chở che đùm bọc, của hi vọng, của tình cảm gắn bó. Việt Bắc hoang sơ mà không hề lạnh lẽo. Trong nỗi nhớ niềm thương, Việt Bắc đẹp ở mọi thời điểm, mọi góc nhìn. Nếu ở câu đầu, người Việt Bắc mới chỉ hiện lên trong so sánh với nỗi “nhớ người thương” thù tới câu thơ này, họ đã thực sự trở thành “người thương trong lòng người chiến sĩ”. Những cảnh vật ở Việt Bắc dù có tên như “ngòi Thia”, “sông Đáy”, “suối Lê” hay không tên như “bờ tre”, “rừng nứa”, … đều in đậm trong nỗi nhớ người ra đi:

Nhớ từng rừng nứa bờ tre

Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê vơi đầy.

Việt Bắc là quê hương của tre nứa, của suối khe. Bao đời nay rừng nứa bờ tre đã gắn bó với con người nơi đây. Trong kháng chiến, những cánh rừn ấy lại “che bộ đội”, “vây quân thù”, là căn cứ địa vững chắc của Cách mạng. Cụm từ “nhớ từng” trở đi trở lại diễn tả nỗi nhớ da diết sâu đậm của người ra đi không chỉ với những cảnh vật quen thuộc cụ thể mà còn là nỗi nhớ bao trùm, toàn vẹn với tất cả những gì thuộc về Việt Bắc. Đó là nỗi nhớ không thể nguôi ngoai, vơi cạn dù nước suối sông có lúc vơi lúc đầy. Trong nỗi nhớ ấy, Việt Bắc trở thành một không gian của nghĩa tình, cảnh nào đất nào cũng lưu giữ nhừn kỉ niệm của kháng chiến, đúng là “khi ta đi đất đã hóa tâm hồn”.

Chia tay với Việt Bắc, người về xuôi còn nhớ mãi tấm lòng của đồng bào nơi đây dành cho Cách mạng, cho kháng chiến. Và như để trả lời câu hỏi thiết tha của người dân Việt Bắc “Mình đi có nhớ những ngày”, người ra đi đã khẳng định “Ta đi ta nhớ những ngày” cùng lời lí giả thấm thía, chân tình cho nỗi nhớ: “Mình đây ta đó đắng cay ngọt bùi”. Họ đã từng bên nhau trong suốt “mười lăm năm ấy”, từ “khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh” đến những năm tháng kháng chiến chống Pháp. Họ đã từng sẻ chia bao cay đắng, ngọt bùi từ “mưa nguồn suối lũ” cho đến “bát cơm chấm muối, mối thù nặng vai”, cùng nhau viết nên trang sử hào hùng oanh liệt nơi Tân Trào, Hồng Thái… Những ngày tháng gian khổ có nhau ấy đã làm nên nghĩa tình Cách mạng hôm nay. Và đó cũng là nguyên nhân làm nên nỗi nhớ sâu đậm của người ra đi với người ở lại.

Mở đầu cả đoạn thơ về nỗi nhớ là một chữ “thương” xót lòng, để rồi quá khứ đổ về với cả gian truân và tình nghĩa:

Thương nhau chia củ sắn lùi

Bát cơm sẻ nửa chăn sui đắp cùng.

“Sắn lùi”, “bát cơm sẻ nửa”, “chăn sui” là những hình ảnh cụ thể và chân thực đã cho thấy cuộc sống gian khó và thiếu thốn vô cùng. Người lính không chỉ phải đối diện với kẻ thù mà còn phải chống chọi với cả cái đói, cái rét, họ đã cùng đồng bào Việt Bắc vượt qua khó khăn, thử thách không chỉ bằng sức mạnh của lòng dũng cảm mà còn bằng sức mạnh của tình yêu thương. Các động từ “chia”, “sẻ”, “đắp cùng” đã thể hiện nghĩa tình cảm động của người dân Việt Bắc và bộ đội, cán bộ. Họ đã chia sẻ cùng nhau từ miếng ăn ngày đói đến hơi ấm trong đêm đông “lạnh giá”. Gian khổ hi sinh, Việt Bắc cùng dân tộc vượt qua, khó khăn thiếu thốn, Việt Bắc cùng dân tộc chia sẻ. Suốt mười lăm năm ấy, đồng bào Việt Bắc đã cùng dân tộc đồng cam cộng khổ, chia ngọt sẻ bùi với Cách mạng, với kháng chiến. Tình yêu thương đã đe đến sức mạnh để người chiến sĩ chiến đấu và chiến thắng. Nói về tấm lòng Việt Bắc, nhà thơ cũng đồng thời làm sống lại những năm tháng vất vả, gian lao ấy mà cả dân tộc đã cùng vượt lên trên tất cả để giữ vững niềm tin vào ngày mai tươi sáng.

Cuộc sống gian khổ, đói nghèo, vất vả, cực nhọc của người dân Việt Bắc trong những công việc thầm lặng hàng ngày góp phần phục vụ Cách mạng và kháng chiến đã trở thành nỗi nhớ xót xa trong lòng người đi, được nhà thơ gợi ra qua một hình ảnh rất dung dị đời thường:

Nhớ người mẹ nắng cháy lưng

Địu con lên rẫy bẻ từng bắp ngô.

Hình ảnh người mẹ “địu con lên rẫy” vừa thể hiện được vẻ đẹp riêng của người phụ nữ dân tộc miền núi phía bắc vừa thể hiện được nét đẹp chung của người phụ nữ Việt Nam trong kháng chiến – những người phụ nữ vừa lam lũ, tảo tần, chịu thương chịu khó vừa giàu lòng vị tha và đức hi sinh, giỏi việc nước, đảm việc nhà. Hai thanh sắc liên tiếp trong cụm từ “cháy nắng” cùng hàm nghĩa ẩn dụ không chỉ gợi ra hình ảnh vạt nương ngập nắng cùng những tia nắng gay gắt chói chang mà còn như nhói lên niềm thương xót. Câu thơ sau có tới ba động từ “địu”, “lên”, “bẻ” thể hiện công việc vất vả, cơ cực của người mẹ Việt Bắc nhưng đổi lại chỉ là thành quả “từng bắp ngô” rất đỗi nhỏ nhoi, ít ỏi. Không gian làm việc khắc nghiệt cùng sự tương phản giữa công việc và thành quả cho thấy sự cực nhọc của con người trong cuộc sống lao động phục vụ kháng chiến, làm tăng thêm cả nỗi xót thương lẫn niềm cảm phục trong trái tim người đi. Gánh nặng hai vai mà luôn lặng lẽ âm thầm – hình ảnh thơ đã cho ta thấy một Việt Bắc mộc mạc bình dị mà lớn lao vô cùng. Hình ảnh ấy là sự kết tinh cho Việt Bắc lam lũ, mộc mạc mà nặng nghĩa nặng tình. Sâu xa hơn, đó còn là hình ảnh của quê hương, đất nước cao đẹp, thiêng liêng. Trong thơ Tố Hữu, Việt Bắc xa xôi bỗng trở nên gần gũi, thân thương kì lạ.

Người ra đi không chỉ nhớ những hình ảnh của cuộc sống đói nghèo hay gian nan vất vả, tâm trí họ còn in đậm những kỉ niệm đẹp đẽ, thân thương, những nếp sống yên bình, thơ mộng của cuộc sống núi rừng thời kháng chiến:

Nhớ sao lớp học i tờ

Đồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan

Nhớ sao ngày tháng cơ quan

Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo

Câu hỏi tu từ “nhớ sao” trở đi trở lại ngân nga da diết vừa gợi vừa khắc sâu bao kỉ niệm về cuộc sống của người kháng chiến. Nỗi nhớ hướng về những “lớp học i tờ” – hình ảnh cảm động của phong trào Bình dân học vụ, xóa nạn mù chữ ngày đầu kháng chiến, gợi tới những tiếng đánh vần ngọng nghịu, những nét chữ vụng về, những say mê háo hức của đồng bào khi được học con chữ Cách mạng trong những lớp học tranh thủ ngoài thời gian lao động và chiến đấu. Nỗi nhớ hướng tới những đêm liên hoan đầm ấm giữa người dân Việt Bắc với cán bộ, từ âm thanh của tiếng “ca vang núi đèo” đến những lung linh, náo nức của “đồng khuya đuốc sáng”. Giữa những ngày tháng vô vàn thử thách, những lời ca tiếng hát cất lên từ trái tim là nguồn động lực tinh thần tiếp thêm sức mạnh cho cả dân tộc hướng về ngày chiến thắng. Núi rừng Việt Bắc mênh mông đã bừng lên một luồng sinh khí mới:

Chia tay với Việt Bắc, người lính còn mãi nhớ nhịp sống êm đềm của núi rừng bao đời nay vẫn diễn ra như thế. Đoạn thơ diễn tả nỗi nhớ Việt Bắc đã khép lại trong dư âm của những thanh âm thân thuộc:

Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều

Chày đêm nện cối đều đều suối xa.

Cảnh tượng bình yên, thân thuộc của cuộc sống nơi núi rừng còn hiện ra trong những âm thanh gợi cảm của “tiếng mõ rừng chiều”, tiếng “chày đêm nện cối” và cả tiếng suối xa vời vợi,… những âm thanh vừa gợi cảm giác êm đềm yên ả vừa phảng phất chút hoang vắng tiêu sơ, cho thấy tình cảm thắm thiết, nỗi nhớ da diết đậm sâu của người ra đi với cuộc sống và con người chiến khu Việt Bắc. Trong nỗi nhớ niềm thương xao xuyến bùi ngùi ấy, Việt Bắc hiện lên là sự tiếp nối của hôm qua và hôm nay, của truyền thống và hiện đại – một Việt Bắc bình dị và cũng thật lớn lao cao cả.

Tiếp nối mạch buồn nhớ thương Việt Bắc của những người chiến sĩ là đoạn thơ về bức tranh tứ bình về cảnh sắc thiên nhiên và con người Việt Bắc. Đây đồng thời là đoạn thơ đặc sắc nhất thể hiện sinh động và thấm thía nỗi nhớ tha thiết của người ra đi với cảnh, với người Việt Bắc.

Đoạn thơ mở ra là những lời hỏi đáp ngọt ngào tha thiết của “ta” với “mình”, của người chiến sĩ và đồng bào Việt Bắc khi cuộc kháng chiến trường kì của dân tộc kết thúc:

Ta về, mình có nhớ ta

Ta về, ta nhớ những hoa cùng người.

Đây là câu hỏi đầu tiên từ phía người đi, một câu hỏi ngọt ngào, phảng phất hương vị của tình yêu. Câu hỏi ấy của người đi không hề chờ lời đáp, không có sự băn khoăn, trăn trở, hỏi chỉ để bộc lộ nỗi bồi hồi xao xuyến phút chia xa. Và có lẽ vì thế mà ngay sau câu hỏi đã là lời khẳng định: “ta về, ta nhớ những hoa cùng người”. Hai câu thơ đầy ắp “ta” và “mình”, những “mình nhớ”, “ta nhớ”. Yếu tố điệp của ngôn từ khiến âm điệu thơ thật ngân nga, lan tỏa, gợi lên nỗi lưu luyến, nhớ thương giăng mắc trong lòng người đi. Nỗi nhớ của người đi hướng về “hoa cùng người”. “Hoa” có thể là “hoa chuối đỏ tươi” hay hoa mơ nở trắng rừng, nhưng đặc biệt hơn, “hoa” ấy còn là hình ảnh hoán dụ cho tình cảm, thiên nhiên, cảnh sắc núi rừng quê hương Việt Bắc. Trong nỗi nhớ của người đi,  cảnh sắc thiên nhiên và con người Việt Bắc luôn đồng hiện hài hòa. Nỗi nhớ này chưa vơi đi thì nỗi nhớ khác đã choáng ngợp cả tâm hồn – một nỗi nhớ ôm chùm cả không gian, thời gian. Tấm lòng tri ân với Việt Bắc thật sâu nặng biết bao.

Sau lời hỏi đáp thiết tha là bức tranh sinh động về bón mùa Việt Bắc với những vẻ đẹp đặc trưng, tiêu biểu nhất. Có thể coi tám câu thơ này là bộ tranh tứ bình đặc sắc của núi rừng Việt Bắc. Mở đầu là bức tranh Việt Bắc giữa mùa đông qua sự phác họa tài tình, tinh tế cả về hình khối, màu sắc, ánh sáng:

Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

Đèo cao nắng anh dao gài thắt lưng.

Mùa đông vốn gắn liền với cái lạnh, tiết trời ảm đạm u ám nhưng trong nỗi nhớ người đi, mùa động Việt Bắc vẫn rất trong sáng, xanh tươi, ấm áp vô cùng bởi sự phối màu độc đáo “rừng xanh” – “hoa chuối đỏ tươi” – những gam màu rực rỡ vừa tương phản vừa tôn nhau. Trên nền trời xanh thẳm, hùng vĩ của núi rừng đại ngàn là sắc đỏ tươi của hoa chuối. Màu đỏ tươi của hoa chuối nổi bật trên nền xanh bao  la, bát ngát của núi rừng vừa tạo cảm giác ấm áp, chói chang vừa cồn cào như những ánh mắt dõi theo đầy lưu luyến theo bước chân người đi. Sự phối hợp khéo léo giữa ánh sáng và màu sắc khiến bức tranh thiên nhiên mùa đông càng trở nên rực rỡ: màu xanh thẳm của núi rừng, màu đỏ tươi của hoa chuối, màu vàng ấm áp của ánh nắng, đặc biệt là ánh phản quang của nắng trên nước thép sáng loáng của con dao người đi rừng.

Sự xuất hiện của con người được miêu tả gián tiếp qua hình ảnh “dao gài thắt lưng” càng làm tăng thêm vẻ đẹp ấm áp, thơ mộng cho mùa đông Việt Bắc. Đặt hình ảnh “dao gài thắt lưng” sau cụm từ “nắng ánh” ở trạng thái động, nhà thơ khiến câu thơ như một góc bất ngờ của nghệ thuật nhiếp ảnh kì thú, tạo hình con người trong tư thế làm chủ, tỏa sáng từ trên cao. Họ trở thành trung tâm của bức tranh thơ và có sức tỏa chiếu xung quanh, tầm vóc con người lớn lao, mạnh mẽ hơn giữa núi rừng hùng vĩ.

Đông qua xuân đến, núi rừng Việt Bắc lại khoác lên mình vẻ đẹp thật trẻ trung, khoáng đạt:

Ngày xuân mơ nở trắng rừng

Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang.

Với cách diễn đạt đặc sắc, câu thơ gợi ra một cảm nhận thật thú vị: mùa xuân về, núi rừng Việt Bắc như bừng thức, vạn vật sinh sôi, muôn hoa khoe sắc. Thiên nhiên mùa xuân Việt Bắc được miêu tả trong những gam màu dịu mát, trẻ trung. Phép đảo ngữ “trắng rừng” đem lại ấn tượng về những khu rừng trắng xóa hoa mơ, kết hợp động từ “nở”, thiên nhiên như tràn trề sức sống, sức xuân như trào dâng trên những cánh hoa đang nở, trên những vạt hoa trắng muốt khắp núi rừng. Nghệ thuật phối màu tinh tế của nhà thơ mang đến một mùa xuân Việt Bắc trong trẻo nhẹ nhàng nhưng không kém phần gợi cảm, hữu tình. Trên nền của bức tranh xuân ấy, con người xuất hiện với vẻ đẹp tài hoa, khéo léo. Động từ “chuốt” kết hợp với tính từ “từng” đã miêu tả chính xác, gợi cảm những động tác thành thục, cẩn trọng, khéo léo của người làm nghề thủ công mĩ nghệ. Câu thơ miêu tả mùa xuân Việt Bắc ẩn chứa niềm tự hào sâu sắc về quê hương, đất nước.

Mùa hè sôi động đã khoác lên núi rừng Việt Bắc những sắc màu rực rỡ và những thanh âm rộn rã. Việt Bắc như trở thành bức tranh sơn mài lộng lẫy:

Ve kêu rừng phách đổ vàng

Nhớ cô em gái hái măng một mình.

Khúc biến tấu giao mùa của đất trời đã được nhà thơ diễn tả tài hoa qua chữ “đổ”. Thiên nhiên tạo vật luôn có sự tương giao chuyển hóa màu nhiệm. Tiếng ve vừa ngân, cả rừng phách xanh mướt đồng loạt chuyển sang vàng trong cái nắng hạ chói chang rực rỡ. Âm thanh và màu sắc như giao hòa đồng điệu. Dường như chính sự giục giã của của tiếng ve đã gợi dậy cái náo nức của tự nhiên, khiến ta có cảm giác như có một dòng thác vàng đổ òa từ trên trời cao xuống rừng phách. Cũng có thể chính sắc vàng kiêu sa, lộng lẫy của rừng phách mà bầy ve không cầm lòng được đã phải náo nức cất tiếng hát gọi hè.

Cũng như người đi rừng, người đan nón, hình ảnh con người Việt Bắc trong bức tranh mùa hạ cũng được miêu tả trong cảnh lao động, đó là “cô em gái hái măng một mình”. Em gái là cách gọi thân thương trìu mến trong quan hệ gia đình, thể hiện tình cảm yêu thương với những con người dường như đã trở thành ruột thịt thân thiết. Cách hiệp vần và láy phụ âm đầu đem đến cho câu thơ tính nhạc độc đáo. Giữa núi rừng mênh mông chỉ có một mình cô gái hái măng lại không hề lẻ loi đơn độc. Thiên nhiên rực rỡ thì con người cũng lạc quan yêu đời.

Mùa thu kết thúc đoạn tứ bình cũng là thời điểm kết thúc cuộc kháng chiến gian nan, oanh liệt, thời điểm chia li giữa Việt Bắc và người kháng chiến. Bức tranh thu Việt Bắc thật thơ mộng, huyền ảo trong gam màu dịu mát của ánh trăng thanh bình:

Rừng thu trăng gọi hòa bình

Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung

Hai câu thơ nhiều thanh bằng mở ra không gian tràn ngập ánh trăng. Ánh trăng của tự do, ánh trăng của chiến thắng rọi sáng lên những bản làng và núi rừng như niềm vui lan tỏa. Mùa thu càng ngọt ngào hơn với “tiếng hát ân tình”. Ánh trăng đã là hình ảnh của cuộc sống hòa bình, tiếng hát vang lên giữa rừng sâu, dưới ánh trăng thanh càng làm đậm thêm cảm giác tươi vui và sự hồi sinh sau chiến tranh. Tiếng hát ngân vang lắng đọng là tiếng lòng của những con người vừa đi qua cuộc kháng chiến trường kì. Miêu tả “tiếng hát ân tình” của người ở lại, nhắc sự “thủy chung” của người ra đi trên nền “ánh trăng hòa bình” có lẽ là dụng ý nghệ thuật sâu sắc của nhà thơ nhằm khẳng định một lần nữa về tấm lòng son sắt thủy chung của người ra đi.

Khép lại nỗi nhớ về Việt Bắc là đoạn thơ tái hiện lại chiến dịch Điện Biên Phủ 56 ngày đêm để làm nên chiến thắng lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu. Đoạn thơ mở ra là một bức tranh toàn cảnh về chiến dịch lịch sử với những nẻo đường ra trận, những bước chân thần tốc:

Những đường Việt Bắc của ta

Đêm đêm rầm rập như là đất rung

Hình ảnh những con đường đã được nhắc đến trong niềm tự hòa sâu sắc. Cụm từ chỉ số nhiều “những đường” mở ra không gian rộng lớn của đường Điện Biên thì cụm từ “của ta” lại chất chứa bao tự hào kiêu hãnh, vừa khẳng định chủ quyền thiêng liêng đã giành lại được của dân tộc vừa diễn tả niềm hân hoan, phấn chấn mà dân ta đã phải đánh đổi bằng xương máu. Hình ảnh những con đường mà nhà thơ nói đến không chỉ mang ý nghĩa tả thực mà còn mang ý nghĩa trượng trưng cho con đường Cách mạng, con đường kháng chiến đã trải qua bao gian khổ hi sinh để đưa dân tộc đến ngày mai chiến thắng.

Ở câu thơ thứ hai, hai từ láy đã được sử dụng rất tạo hình để miêu tả chân thực, sinh động khí thế hào hùng của cả dân tộc ngày ra trận. “Đêm đêm” là thời gian của chiến dịch, là thời gian của kháng chiến mà cũng là nề nếp quy củ thì “rầm rập” là âm hưởng của tiếng bước chân hùng dũng gợi ra khí thế mạnh mẽ, lực lượng hùng hậu đang cuồn cuộn đổ ra chiến trường. Với âm hưởng anh hùng ca, hai câu thơ của Tố Hữu đã thể hiện thành công vẻ đẹp của một dân tộc mà tất cả đã trở thành anh hùng.

Từ miêu tả khái quát, nhà thơ hướng đến miêu tả cụ thể chi tiết vẻ đẹp của những lực lượng tham gia chiến dịch mà cũng là quá trình dân tộc đã chiến đấu và chiến thắng:

Quân đi điệp điệp trùng trùng

Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan.

Hai từ láy “điệp điệp”, “trùng trùng” vừa miêu tả lực lượng hùng hậu, đội ngũ chỉnh tề vừa thể hiện sự trưởng thành lớn mạnh không ngừng của một đội quân ban đầu chỉ vỏn vẹn 34 người. Từ vẻ đẹp bên ngoài, nhà thơ hướng đến vẻ đẹp bên trong của đoàn quân ra trận. Đó là vẻ đẹp lí tưởng, vẻ đẹp tâm hồn của người chiến sĩ với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Hai hình ảnh “ánh sao” “đầu súng” đặt cạnh nhau đã tạo ra sự kết hợp tuyệt vời giữa hiện thực và lãng mạn. Súng là biểu tượng của chiến tranh tàn khốc nhưng cũng là hình ảnh của ý chí chiến đấu, ánh sao là vẻ đẹp của thiên nhiên, là biểu tượng của hòa bình, của lí tưởng cách mạng luôn soi đường chỉ lối cho người chiến sĩ. Hai hình ảnh thơ đã bổ sung, nâng đỡ cho nhau, đem đến cho người đọc cảm nhận về vẻ đẹp lí tưởng, của ý chí kiên cường bất khuất, lớn lao vô cùng.

Nói về sức mạnh của dân tộc trong chiến dịch Điện Biên Phủ không thể không nói tới vẻ đẹp của đoàn dân công phục vụ chiến trường:

Dân công đỏ đuốc từng đoàn

Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay.

Phép đảo ngữ và hai thanh trắc liên tiếp trong các cụm từ “đỏ đuốc”, “nát đá”, đã đem đến những ấn tượng về sự đông đảo, về sức mạnh, về niềm vui và ánh sáng. Những đoàn dân công tiếp nhận vận chuyển lương thực phục vụ chiến trường cũng bước đi trong đêm, những ánh đuốc soi đường đỏ rực nối tiếp nhau, dân công ào ạt tiến về phía trước, giáo thổi những tàn lửa bay tạt lại phía sau như nối dài thêm dòng người. Nghệ thuật thậm xưng trong hình ảnh “bước chân nát đá” ca ngợi sức mạnh phi thường của đoàn dân công đông đảo nối tiếp nhau ngày đêm tải lương, tải đạn ra chiến trường phục vụ chiến dịch, góp công vào chiến thắng của dân tộc.

Sau vẻ đẹp của đoàn dân công là vẻ đẹp chói lòa của những đoàn xe vận tải đang băng băng ra trận:

Nghìn đêm thăm thẳm sương dày

Đèn pha bật sáng như ngày mai lên

Từ thực tiễn khi cuộc kháng chiến bước vào gia đoạn cuối được trang bị những đoàn xe vận tải, cuộc đấu tranh của nhân dân đã được cơ giới hóa, nhà thơ sáng tạo thành những hình ảnh thơ mang ý nghĩa tượng trưng sâu sắc. Cách nói ước lệ “nghìn đêm thăm thẳm sương dày” vừa gợi nhắc đến đêm trường nô lệ đau thương, tăm tối vừa gợi ra cuộc kháng chiến trường kì ba ngàn ngày với bai thử thách hi sinh. Hình ảnh đèn pha bật sáng ở câu sau lại tạo nên sự tương phản mạnh mẽ với hình ảnh thơ ở câu trước đó. Ánh đèn soi sáng những nẻo đường ra trận, xua đi đêm dài thăm thẳm để đem về ánh sáng chói lòa của niềm vui hạnh phúc. Tương lai tươi sáng đã hiện hình ngay trong hiện tại còn hiện hữu gian khổ khó khăn.

Đoạn thơ khép lại với chiến thắng giòn giã của dân tộc:

Tin vui chiến thắng trăm miềm

Hòa Bình, Tây Bắc, Ðiện Biên vui về

Vui từ Ðồng Tháp, An Khê

Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng.

Với nghệ thuật liệt kê cùng hàng loạt địa danh gắn liền với những trận đánh, những chiến thắng của dân tộc để kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp trường kì. Bốn câu thơ như một lời tổng kết ngắn gọn lại hành trình của cả dân tộc đã biến đau thương thành sức mạnh để giành chiến thắng. Niềm vui tỏa ra muôn nơi, từ Việt Bắc đến thủ đô, từ miền Nam ra miền Bắc. Những nẻo đường ấy đã trở thành trời của ta, đất của ta khiến âm hưởng thơ thật phấn chấn, rộn ràng.

Với thể thơ lục bát cùng những hình ảnh chân thực, tái hiện cảm động đời sống khánh chiến của người chiến sĩ cùng kết cấu “ta” – “mình” độc đáo, Việt Bắc chính là khúc ca réo rắt về tình cảm gắn bó yêu thương của đồng bào Việt Bắc và người lính Cách mạng. Qua bài thơ, Tố Hữu còn cho thấy bao giá trị truyền thống tốt đẹp, bao tình cảm lớn lao của người Việt Nam đã thừa kế trong thời đại Cách mạng một cách thiêng liêng và mạnh mẽ.

Bích Hợp

Like bài viết để ủng hộ tác giả

Bình luận bài viết