Phân tích bài thơ Khi Con Tu Hú của nhà thơ Tố Hữu cực hay

Đề bài: Phân tích bài thơ Khi Con Tu Hú của nhà thơ Tố Hữu

Bài làm

Loading...

Tố Hữu là một trong những nhà thơ đầu tiên của thơ ca Việt Nam. Những tác phẩm thơ ca của Tố Hữu đều mang một nét hồn riêng, đều mang một nốt trầm sâu lắng. Bài thơ “Khi con tu tú” của Tố Hữu được đánh giá rất cao, bài thơ được nhà thơ viết vào những năm tháng khi bị giam trong nhà lao Thừa Phủ. Bài thơ là tiếng lòng khao khát tự do của người chiến sĩ cách mạng Tố Hữu.

Nhan đề bài thơ “khi con tu hú” đã gơi lên được không gian và thời gian là khi hè đến, khoảng thời gian đó cũng như đánh thức tâm hồn của nhà thơ như bừng tỉnh trong cơn mộng mị kéo dài suốt những tháng ngày qua. Đồng thời cũng thể hiện được khao khát tự do cháy bỏng đang len lói trong tâm hồn của nhà thơ.

Tiếng chim tu hú đã vượt qua cả những song sắt giăng đầy, len lỏi vào sâu trong trái tim của người chiến sĩ cách mạng nơi tù giam.

Khi con tu hú gọi bầy
Lúa chim đương chín trái cây ngọt dần

Tiếng con chim tu hú gọi bầy đàn vọng lại đến tai nhà thơ, báo hiệu rằng một mùa hè sắp đến. Lúa chim đương bắt đầu chín, trái cây trải qua bao nắng vàng thời gian cũng đang ngọt dần. Tác giả sử dụng từ “đương” thay cho từ “đang” nhằm muốn nói đến mùa hè chỉ mới bắt đầu thôi, tất cả mọi sự vật cùng đang chỉ mới bắt đầu. Phải chăng là do nhà thơ muốn níu giữ lại thời gian, thời gian đừng đi qua nhanh quá để ông có thể cảm nhận được, có thể ngắm nhìn những sự vật đó trước khi quá muộn.

Đâu chỉ là tiếng chim gọi đàn, thiên nhiên đất trời còn mang nhiều màu sắc dáng vẻ hơn như thế.

Vườn râm dậy tiếng ve ngân
Bắp rây vàng hạt đầy sân nắng vàng
Trời xanh càng rộng càng cao
Đôi con diều sáo lộn nhào từng không

Phân tích bài thơ Khi Con Tu Hú của nhà thơ Tố Hữu cực hay

Loading...

Phân tích bài thơ Khi Con Tu Hú

Bên cạnh tiếng chim tu hú, ta nghe đâu đây là những giàn đồng ca ngân nga trên cành cao của những chú ve gọi hè. Rồi lại thấy trải vàng cả sân là bắp đang đón nắng. Tất cả những hình ảnh đó là thiên nhiên rất đỗi bình dị của làng quê Việt Nam mà đi đâu ta cũng có thể thấy được. Trời xanh, mây gợn gợn, bầu trời trong veo và cao ngút ngàn. Những âm thanh réo rắt của tiếng sao diều chao liệng khiến cho ta cảm thấy vui. Nhưng không, người chiến sĩ cách mạng đang phải bó mình nơi bốn bức tường ấy thì lại chẳng thể nào thấy vui cho nổi, nhà thơ khát vọng mình cũng được giống những cánh diều kia, mình cũng được tự do bay nhảy, tự do tỏa sáng ở mọi nơi. Nhà thơ ước mong mình cũng cất đượ tiếng hát, cũng thấy được những khung cảnh bên ngoài. Những cảnh vật đó đều rất đỗi thân thuộc, thường ngày ta đã đều thấy đi thấy lại, nhưng sao khi xa rồi lại cảm thấy nhớ nhung da diết. Nhà thơ đã sử dụng tất cả những giác quan của mình để cảm nhận đất trời, để cảm nhận được luồng khí mà sắc hè mang lại, hương lúa chín, tiếng sáo diều, ve ngân… tất cả tất cả đã như in sâu mãi sqau vào trong tâm chí của nhà thơ. Chỉ với sáu câu thơ nhưng tác giả đã gợi lên được bức tranh thiên nhiên tươi đẹp của vùng quê Việt Nam.

Nhìn cảnh thiên nhiên tươi đẹp bao nhiêu thì tác giả lại càng cảm thấy tủi khổ cho thân phận của mình bấy nhiêu, ông ước vọng được thoát ra khỏi chốn lao tù này, ước vọng được tự do bay nhảy, ước vọng được giống như những cánh chim bay mãi về nơi xa mà chẳng bao giờ phải lo lắng về những tháng ngày bị cầm tù này. Ta cũng có thể cảm nhận được rằng, Tố Hữu là người rất yêu thiên nhiên của quê hương đất nước, chỉ có thể như thế dù có ở chốn lao từ thì ông cũng vẫn mới nhìn được cảnh vật thiên nhiên đẹp đến như vậy. Sự trẻ trung, yêu đời của Tố Hữu thể hiện rõ nét trong thơ ca, nhưng cái niềm vui tươi yêu đời ấy nay lại bị giam giữ trong chốn ngục tù tăm tối.

Đoạn thơ sử dụng nghệ thuật tả cảnh rất sinh động, giàu sức gợi hình gợi cảm. Đặc biệt nhà thơ còn sử dụng phép liệt kê để tạo ra những ấn tượng mạnh về một mùa hè phong phú, khát khao tuổi trẻ. Hình ảnh mùa hè hiện lên cũng kéo theo đó là một khát vọng sống, khát vọng tự do như lóe lên trong bóng tối mờ mịt ấy. Đoạn thơ cho ta thấy được nét đẹp trong tâm hồn của người chiến sĩ. Người chiến sĩ cách mạng ấy mang trong mình một một nhịp đập chung với quê hương và đất nước.

Giọng thơ từ nhớ nhung da diết đã chuyển dần sang căm hờn, uất ức.

Ta nghe hè dậy bên lòng
Mà chân muốn đạp tan phòng hè ôi
Ngột làm sao chết mất thôi
Khi con tu hú ngoài trời cứ kêu

Mùa hè đã đến thậm đậm vào từng khung cảnh đất trời Việt Nam, mùa hè mang theo hương sắc và cũng mang trong mình những cảm xúc thúc giục. Tiếng chim chào hè cũng cứ như thế mà hối thúc vào tâm hồn của nhà thơ một khao khát thoát khỏi nơi này, một khao khát cống hiến cho cách mạng, cho dân tộc. Hè đến làm dậy sóng trong tâm hồn tác gải, chính vì vậy mà ta muốn “đạp tan phòng”, muốn phá vỡ cái xiềng xích đang kìm hãm tâm hồn của người chiến sĩ. Nếu như không gian ngoài kia bao la rộng lớn, thoáng đãng thì ở đây “ngột làm sao” bí bách làm sao, nó khiến cho con người như không thể nào thở nổi, “chết mất thôi” phải đến mức độ nào thì nhà thơ mới than lên rằng “chết mất thôi”? quả thực là bí bách. Tiếng chim chim tu hú từ đầu cho đến cuối bài thơ đều là tiếng gọi của thiên nhiên, tiếng giục giã những người chiến sĩ cách mạng hãy đứng lên, hãy kiên cường lên. Hãy cùng nhau gắn kết thành một khối, đập tan mọi xiềng xích, độc lập này là của chúng ta, tự do này cũng là của chúng ta không thứ gì có thể kìm hãm được.

Bài thơ được Tố Hữu sử dụng những hình ảnh giản dị, ngôn ngữ đời thường mà giàu sức gợi cảm, nghệ thuật. Nhà thơ cũng đã sử dụng thể thơ lục bát cùng những hình ảnh uyển chuyển nói lên tâm trạng của người cách mạng. Khi con tu hú cũng là tiếng ca của thiên nhiên đất trời gọi người chiến sĩ cách mạng hãy trở về cùng tự do. Hãy thắp sáng cánh chim vì hòa bình độc lập của dân tộc.

Nguyễn Ánh Liên

Ứng dụng VĂN MẪU TỔNG HỢP trên điện thoại với hơn 30k bài văn mẫu hay nhất, giải bài tập SGK, soạn văn đầy đủ chi tiết. Hãy tải App ngay để chúng tôi phục vụ bạn tốt hơn nhé!

Nếu thấy bài viết hay, hãy động viên và chia sẻ ban biên tập! Các bình luận không phù hợp sẽ bị cấm bình luận vĩnh viễn.

Like bài viết để ủng hộ tác giả

Bình luận bài viết