Phân tích bài thơ Tỏ Lòng của nhà thơ Phạm Ngũ Lão cực hay

Đề bài: Phân tích tác phẩm Tỏ Lòng (Thuật hoài) của Phạm Ngũ Lão

Bài làm

Loading...

Sinh ra trong thời Đông A với những chiến công lừng lẫy chống ngoại xâm, tên tuổi của Phạm Ngũ Lão đã được lịch sử ghi lại như một biểu tượng sáng ngời của con người tận chung với nước. Không chỉ vậy ông còn là một người văn võ toàn tài, tuy không không sáng tác nhiều nhưng tình cảm của ông vẫn ghi dấu trên những trang viết đủ để làm xúc động trái tim của những người con yêu nước. một trong những tác phẩm khi lại được tình cảm của ông chính là bài thơ Tỏ lòng. Tác phẩm thể hiện được nét đẹp và khí thế của đấng nam nhi thời đại, đó cũng là tư thế của dân tộc trong những ngày tháng hào hùng ấy.

Hai câu thơ đầu tác giả đã miêu tả hình ảnh tráng sĩ và quân đội nhà Trần.

Hoành sóc giang sơn cáp kỷ thu

Giang sơn tỳ hổ khí thôn ngưu

(Múa giáo non sông trải mấy thu

Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu)

Ta thấy hình ảnh chiến sĩ hiện lên với tư thế “cầm ngang ngọn giáo”, đây là một tư thế vô cùng hiên ngang, đây là một tư thế chiến đấu vì Tổ quốc trong sự vững trãi và điềm tĩnh. Rõ ràng hình ảnh chiến sĩ vệ quốc hùng dũng hiên ngang vì đã có thời gian dài bảo vệ đất nước. Đây cũng là tư thế của con người hiểu rõ được sức mạnh daan tộc và nhiệm vụ của bản thân. Chữ “hoành” còn là tư thế chiến đấu sẵn sàng ra trận. Ẩn sâu trong cãi tĩnh của thế đứng là tinh thần yêu nước luôn động, cây giáo trong tay chiến sĩ đã trở thành một biểu tượng đẹp cho tinh thần bất khuất đó. Không những thế hình ảnh chiến sĩ còn được thể hiện trong tư thế giữ gìn non sông, đây là thế đứng hiên ngang vươn lên một tầm cao mới của người chiến sĩ và đặc biệt nó được đặt trong nhiệm vụ bảo vệ đất nước – một nhiệm vụ vô cùng quan trọng. Từ đấy ta thấy câu thơ đã tạo dựng được một không gian rộng lớn đó là không gian của non sông, vũ trụ.

Đặt giữa không gian ấy, tư thế của con người trở nên đẹp lồng lộng ngang tầm vũ trụ như một bức tượng đài bằng cẩm thạch và nâng đỡ bức tượng ấy là mây trời, là đồng lúa là dòng sông quê hương. Đường nét hiên ngang của bức tượng đã hòa nhập với nền trời tạo thành điểm nhán của non sông đất nước. Ánh sáng từ cây giáo và đôi mắt tráng sĩ đã tỏa ra vầng hào quang, xua tan mây mù soi thấu vào vũ trụ. Đó là hình ảnh con người cầm ngang ngọn giáo để trấn giữ đất nước, biển cả. Không chỉ vậy tư thế ấy còn đặt trong một thời gian dài “đã mấy thu” toát lên sự bền bỉ của con người trong tư thế chiến đấu. Bởi lẽ con người ở đây không chỉ đứng đó trong thoáng chốc mà đã trải qua nhiều thu rồi, nhiều năm rồi. Lời thơ hàm súc song xây dựng được bức tượng đài hoành tráng về tráng sĩ thời Trần, đại diện cho sức mạnh thời đại.

Loading...

Phân tích bài thơ Tỏ Lòng của nhà thơ Phạm Ngũ Lão cực hay

Phân tích bài thơ Tỏ Lòng

“Ba quân” là quân đội nhà Trần tham gia đánh trận. Ở đây tác giả muốn ngợi ca quân đội nhà trần đông đảo, chỉnh tề và bài bản. Không nhưng thế đội quân ở đây được miểu tả với hình ảnh rất độc đáo “Ba quân hổ báo khí mạnh nuốt trôi trâu”, tác giả đã sử dụng biệ pháp so sánh, ẩn dụ, kết hợp với phóng đại để nhằm cụ thể hóa sức mạnh của ba quân và khái quát hóa sức mạnh của quân đội nhà Trần.

Qua hình ảnh này ta nhận thấy sức mạnh của quân đội, hùng dũng ra trận, quyết đánh thắng quân xâm lược. Khí thế của đội quân ào ào ra trận không có một sức mạnh nào, kẻ thù nào có thể ngăn lại được. Ở đây chữ “khí thôn ngưu” tức là nuốt trôi trâu mang đến khí thế tráng chí của những con người thời kì này. Biện pháp phóng đại làm cho câu thơ mang một tầm vóc hoành tráng. Nếu hình ảnh “ba quân hổ báo” thể hiện sức mạnh thiên nhiên của đội quân thì hình ảnh “nuốt trôi trâu” còn tái hiện sức mạnh ấy còn vượt cả thiên nhiên. Quả thực hình ảnh ẩn dụ phóng đại “Tam quân tỳ hổ” đã trở thành một câu thơ trừu tượng một thi liệu trong nền văn học Việt Nam. Ở đây người chiến sĩ bình nguyên đã mamng theo một khát vọng cháy bỏng khao khát lập chiến công để bảo vệ non sông đất nước. Quả thật đây là những ước vọng đã làm lên được lịch sử của dân tộc. Khát vọng ấy là biểu hiện rực rỡ cho lòng trung quân ái quốc của tráng sĩ, họ mơ ước về những chiến công hiểu hách, oanh liệt của mình có thể sánh ngang với chí khí anh hùng của Gia Cát Lượng của Trung Quốc.

Qua hai câu thơ đầu, ta cảm nhận được hình ảnh con người – quân đội nhà Trần được tá giả lồng ghép trong hình ảnh đất nước, quê hương. Cũng chính từ hình ảnh của quân đội mà tác quả đã bộc lộ những cảm nghĩ của chính mình thông qua hai câu thơ sau.

Nam nhi vị liễu công danh trái

Tu thính nhân gian thuyết vũ hầu

(Công danh nam tử còn vương nợ

Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu)

Tác giả đã nhắc tới món nợ công danh, nón nợ ở đây có thể là chí công danh hay là chưa hoàn thành nghĩa vụ với đất nước. Món nợ công danh ở đây là tư tưởng về chí làm trai theo Nho giáo. Chí làm trai thời bấy giờ có tác dụng cổ vũ con người từ bỏ lối sống tầm thường, ích kỉ, sẵn sàng hi sinh cho sự nghiệp chung. Món nợ ấy đã được nhắc tới trong rất nhiều bài thơ. Nguyễn Công Trứ đã từng nói “Đã mang tiếng ở trong trời đất/ Phải có danh gì với núi sông”. Đây là công danh làm bằng ý chí và tài năng chứ không phải thứ công danh tầm thường mang màu sắc cá nhân. Nói đến điều này, Phạm Ngũ Lão đang tự nhắc mình nghĩa vụ với dân, với nước. Ta thấy bản thân tác giả cũng là con người mang chí khí lớn lao, muốn làm những điều vĩ đại cho đất nước cho dân tộc.

Câu thứ tư, ý thơ chợt vụt sáng với một nỗi niềm làm ta thấy bất ngờ đó là tác giả thẹn vì chưa đủ tài chí như Gia Cát Lượng. Tác gỉa lấy Vũ Hầu Gia Cát Lượng làm một người để mình hướng đến, rõ ràng là Phạm Ngũ Lão đã thể hiện mong muốn là lên công nghiệp phò tá nhà vua, phò tá nhà trần, thực hiện lý tưởng chí quân cao cả, bề tôi chân thành tận tâm. Nhưng ở đây Phạm Ngũ Lão thẹn vì nghĩa mình chưa có tài cao như Gia Cát Lượng để trừ giặc cứu nước, đó là nỗi thẹn của một người anh hùng. Nỗi thẹn đó không làm cho con người thấp bé đi mà nâng cao nhân cách con người, chỉ con người có nhân cách lớn mới có nỗi thẹn này. Qua đó ta thấy suy nghĩa của tác giả là chữ nghĩa với đất nước, đồng thời thâm phục sự khiêm tốn và ý chí vươn lên của tác giả. Có người đã nói chữ “thẹn” là nhãn tự của bài thơ có nặng bằn hai mươi bảy chữ còn lại cả về thế âm và thế nghĩa. Ở hai câu thơ cuối chúng ta thấy tác giả đã thể hiện một suy nghĩ làm cho bản thân nhân cách cao hơn đấy là muốn đóng góp cho đất nước nhiều hơn nữa, nhìn thấy hình ảnh Gia Cát Lượng mà thấy thẹn cho bản thân.

Bài thơ chỉ có bốn câu song chan chứa rất nhiều điều, mở đầu bằng sự mạnh mẽ, kết thúc trong sự sâu lắng. Bài thơ là phản chiếu của sự hào hùng khi lý tưởng chung quân ái quốc đã hào quyện trong tình cảm tâm hồn của nhà thơ. Qua bài thơ ta cảm nhận được tấm gương của thời đại Đông A và cũng tự nhận ra được trách nhiệm chúng ta cần phải có để giúp xây dựng đất nước ngày càng vững mạnh.

Nguyễn Ánh Liên

 

Like bài viết để ủng hộ tác giả

Bình luận bài viết