Phân tích Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm cực hay

Đề: Phân tích tác phẩm “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm

Bài làm

Loading...

Nguyễn Bỉnh Khiêm là nhà thơ có học vấn uyên thâm, ông từng làm quan to trong triều đình song vì quan trường có nhiều bất công mà ông quyết định cáo quan về ở ẩn để có một cuộc sống thanh nhàn. Nguyễn Bỉnh Khiêm còn được biết đến là một nhà thơ lỗi lạc trong thời trung đại của văn học Việt Nam. Cái nét thanh cao của ông được thể hiện rõ trong tác phẩm “Nhàn”. Bài thơ được viết bằng thể thất ngôn bát cú đường luật. Bài thơ cũng nói lên tiếng lòng của Nguyễn Bỉnh Khiêm về cuộc sống thanh đạm, an nhiên và nhiều niềm vui.

Trước tiên ta cần hiểu nhàn là có ít hoặc không có việc gì phải làm, lo nghĩ đến.  Chữ “nhàn” trong quan niệm thời trung đại được thể hiện qua cách xuất – xử, hành – tàng của tầng lớp nho sĩ. Họ thường gửi gắm vào thiên nhiên tâm sự của bản thân và chuyện thế sự. Đây cũng là chủ đề lớn trong thơ chữ Hán và thơ chữ nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Thơ ông hội tụ những phong phú và đa dạng của chữ “nhàn”: thân nhàn, phận nhàn, thanh nhàn…

Nhàn là sống thuận theo lẽ tự nhiên:

Dẫu nhẫn chê khen dầu miệng thế

Cơ cấu tạo hóa mặc tự nhiên

Lối sống “nhàn” đối lập với danh lợi, công danh:

Dưới công danh đeo khổ nhục

Trong dại dột có phong lưu

Loading...

Đây quả thực là triết lý sống, tâm lý sống để đời của Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Phân tích Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm

Bài thơ mở đầu với hai câu đề:

Một mai, một cuốc, một cần câu

Thơ thẩn dầu ai vui thú nào

Các hình ảnh “mai”, “quốc”, “cần câu” đó là dụng cụ lao động của những người nông dân thôn quê, đây là một cuộc sống lao động giản dị, mộc mạc. Là nhà thơ của thời trung đại Nguyễn Bỉnh Khiêm đã sử dụng hình ảnh điểm chưa trong văn học trung quốc của Nhạc Phủ “Tạc tỉnh nhị ẩm, canh điền nhị thực” được hiểu là đào giếng mà uống cày ruộng mà ăn. Ở đây tác giả anh muốn nói đến một cuộc sống tự do tự tại không lệ thuộc vào bất cứ hoàn cảnh nào. Điệp từ “một” kết hợp với hình ảnh “mai”, “cuốc”, “cần câu” vừa gọi thế sẵn sàng, chủ động của một lão chư điền vừa gọi dáng vẻ ung dung nhàn tản của con người khi tìm được niềm vui trong cảnh nhàn. Song bên cạnh đó cũng gợi thấp thoáng cái dáng vẻ đơn độc của con người đã tự tìm cho mình lối đi riêng không giống ai cả. “Thơ thẩn” là lặng lẽ và như đang có điều suy nghĩ vẩn vơ, lan man. Có thể thấy nhìn bên ngoài nó là trạng thái thảnh thơi, nhàn nhã song bên trong giường như con người đang có những suy nghĩ nội tâm. Từ “thơ thẩn” thể hiện tâm thế điềm nhiên trạng thái thoải mái của con người khi đã hài lòng với thực tại, hài lòng với sự lựa chọn của mình là sống giữa thiên nhiên mà không hề cô độc. Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn tìm thấy niềm vui trong cuộc sống ấy, cái dáng thơ thẩn của thi sĩ thật ung dung bình thản.

Ở đây nhà thơ cũng có một sự so sánh. “Ta” nhàn tản, tự do tự tại trong một cuộc sống thanh bạch, không vướng bận thế tục cũng không mê đắm 7 cám dỗ của thế tục. Còn “ai” mê đắm trong những thú vu,i những cám dỗ của cuộc sống trần tục cũng là tự tạo cho mình những hệ lụy phiền phức mà nó đem lại.

Đến hai câu thơ thực:

Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ

Người khôn người đến chốn lao xao

Nơi “vắng vẻ” chính là chốn núi rừng, nơi thôn dã thâm sơn cùng cốc. Ý chỉ nơi chỉ có thiên nhiên cây cỏ hồn nhiên không vụ lợi cũng không bon chen giành giật, nơi mà ta có thể chan hòa hòa hợp với tự do tự tại. Và nơi “vắng vẻ” này là nơi tâm hồn thanh thản trí nghĩ được nghỉ ngơi. “Chốn lao xao” là những đô thị phồn hoa nơi con người náo nhiệt, bon chen vào những guồng quay của cuộc đời. Sống ở “chốn lao xao” buộc con người ta phải suy nghĩ phải biết tranh giành để có một cuộc sống tốt đẹp hơn. Hai từ “dại”, “khôn” được dùng với ý nghĩa chỉ hai cách sống, hai sự lựa chọn. Thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm có rất nhiều bài nhắc đến chuyện “khôn – dại”, “vụng – xảo”. Nếu như người đời “dại” mà tìm đến với cuộc sống bon chen để giữ lấy tai họa và vẩn đục tâm hồn thì thi nhân lại “dại” vì không lựa chọn theo thời thế, không tận dụng cơ hội để mưu cầu công danh phú quý. Người đời “khôn” vì tìm cách đạt được công danh phú quý còn thi nhân “khôn” vì có được sự thanh thản, trong sạch, tự do.

Đến với hai câu thơ luận Nguyễn Bỉnh Khiêm đã phô ra hết tài năng của mình trong thi ca:

Thu ăn măng trúc, đông ăn giá

Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao

Chỉ với hai câu thơ mà tác giả đã vẽ nên bức tranh tứ bình về bốn mùa, mùa nào thức nấy, có mùi vị hương sắc, vừa dân dã thanh đạm: Thu – măng trúc, đông – giá, xuân – tắm hồ sen, hạ – tắm ao. Cuộc sống đạm bạc mà thanh cao, phong phú ngay trong bể dân dã quê kiểng. Con người thanh thản, tự do chan hòa với thiên nhiên, sống cùng thiên nhiên và được thiên nhiên nuôi dưỡng trở nên tự nhiên như cây cỏ. Nguyễn Bỉnh Khiêm hướng con người trở về với tự nhiên về với cái bản thể nguyên sơ vốn có trong sự hòa hợp nhịp nhàng của địa – nhân. Điệp từ “ăn” đây là động từ chỉ hành động nuôi dưỡng duy trì sự sống, một hành động rất quan trọng trong cuộc sống con người. “Tắm” là làm sạch bản thân, là nghỉ ngơi thư giãn tuyệt đối. Đây là hành động đưa con người trở về trạng thái tự nhiên nhất. Hành động này không hề thô tục mà ngược lại rất thanh tao, nó là sự gột rửa, Loại bỏ hết những vướng bận, những bụi trần mà bị lâu đã ngự trị trong tâm hồn của ta.

Đến với hai câu thơ kết:

Rượu đến cội cây ta sẽ uống

Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao

“Uống rượu” là thưởng thức một nhã thú. Với nhịp thơ 1/3/3 “rượu/ đến cội cây/ ta sẽ uống” đã biến rượu trở thành một đối tượng để ngẫm nghĩ chứ không phải là đối tượng để thưởng thức. Ngẫm về rượu, ngẫm về cuộc đời, ngẫm về lẽ sống trong đời – một tâm thế tĩnh lặng thâm trầm của bậc cao nhân, của người đắc đạo. “Sẽ uống” việc uống rượu này ở thì tương lai, khi đã tới cội cây – nơi mà ta có thể thảnh thơi ngồi ngẫm nghĩ về lẽ đời về việc làm người trong cuộc đời này. Đó là một tư thế ung dung chủ động trong ý thức và hành động. Uống rượu là việc sẽ làm khi đạt đến cái đích trong nhận thức về lẽ đời.

“Nhìn xem phú quý” ở đây phú quý trở thành đối tượng để nghiền ngẫm, quan sát. Tác giả ở thế đứng cao hơn để quan sát và nghiền ngẫm về phú quý. Kết quả của sự quan sát và nghiền ngẫm là rút ra được một nhận thức: phú quý tựa chiêm bao, giàu sang đến rồi đi như một giấc mơ. Há chẳng phải thứ còn lại chính là con người mình, tâm tính của mình, tư cách và tư thế của mình trong cuộc đời này.

Bài thơ là lời tâm sự thâm trầm sâu sắc để khẳng định quan niệm sống nhàn:  là sống hòa hợp với thiên nhiên, giữ cốt cách thanh cao vượt lên danh lợi tầm thường. Triết lý sống đó vừa là sự tiếp thu tư tưởng lão trang vừa là sự lựa chọn riêng của Nguyễn Bỉnh Khiêm để tự bảo vệ mình trước những tác động tiêu cực của thời đại.

Nguyễn Ánh Liên

 

Ứng dụng VĂN MẪU TỔNG HỢP trên điện thoại với hơn 30k bài văn mẫu hay nhất, giải bài tập SGK, soạn văn đầy đủ chi tiết. Hãy tải App ngay để chúng tôi phục vụ bạn tốt hơn nhé!

Nếu thấy bài viết hay, hãy động viên và chia sẻ ban biên tập! Các bình luận không phù hợp sẽ bị cấm bình luận vĩnh viễn.

Like bài viết để ủng hộ tác giả

Bình luận bài viết